Tại hội thảo “Diễn biến kinh tế 2022-2023 và những khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt Nam”, sáng 15/9, TS Lê Đăng Doanh nhấn mạnh: “bản thân các doanh nghiệp cần chuẩn bị cho một năm thế giới đầy biến động”, còn về phía nhà nước thì cần nỗ lực làm sao để “phát triển các doanh nghiệp dân tộc”, đó mới là kế “sâu rễ bền gốc”.
Hội thảo Diễn biến kinh tế 2022 – 2023: Những khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt Nam, do Hội DN HVNCLC tổ chức sáng 15/9, với 2 diễn giả là TS Lê Đăng Doanh và chuyên gia quản trị Đỗ Hòa. Hội thảo thu hút hơn 100 doanh nghiệp và phóng viên báo đài tham dự.
Bất định và phức tạp
Mở đầu hội thảo, TS Lê Đăng Doanh đã phác thảo lại một bức tranh thế giới đầy biến động và phức tạp thời gian qua. Ông cũng dự báo là xu hướng này còn tiếp tục, ít nhất cho năm sắp tới, 2023.
Với độ mở cao của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, với tỷ trọng xuất nhập khẩu tương đương 236% GDP, bất cứ “cơn nóng-lạnh” nào của nền kinh tế thế giới cũng sẽ tác động sâu sắc đến Việt Nam, và các doanh nghiệp sẽ phải sẵn sàng ứng phó. Mặc dù đã có những tín hiệu lạc quan, nhưng xu hướng đại dịch Covid-19 được cho là sẽ vẫn tiếp tục. Ít nhất, ngay bây giờ, Trung Quốc vẫn tiếp tục chính sách zero Covid-19, vẫn đóng cửa các khu dân cư hàng trăm nghìn dân. Nền kinh tế thế giới thay đổi mạnh mẽ, “trước đây các du thuyền hạng sang đi khắp nơi, như đặc quyền của nhà giàu, nay thì không thể cập bến được, vì không cảng nào dám nhận” – TS Lê Đăng Doanh lấy dẫn chứng.
Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh Nga – Ukraine cũng đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện thế giới. Giá dầu thô tăng vọt, kéo theo giá phân bón và các mặt hàng khác như gạo, lúa mì, sữa… cũng đồng loạt tăng theo. Mới đây, chuyến thăm Đài Loan của chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi, cùng hàng loạt các đoàn nghị sĩ Mỹ và EU tới Đài Loan sau đó sẽ làm cho tình hình eo biển Đài Loan vốn đã căng thẳng càng thêm căng thẳng. “Với những động thái gần đây, sẽ không có gì bất ngờ nếu thời gian tới Mỹ – Trung sẽ tiếp tục gia tăng căng thẳng với những đòn ăn miếng trả miếng của cả hai bên về thương mại và công nghệ” – TS Doanh nhận định.
Mặt khác, biến đổi khí hậu, với những diễn biến thời tiết cực đoan ở khắp nơi trên thế giới. Trong khi tình trạng khô hạn, nắng nóng chưa từng thấy ở châu Âu, Trung Quốc gây thiệt hại lớn cho nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực, thì tại Pakistan lũ lụt nhấn chìm hơn 1/3 diện tích đất nước dưới nước, làm chết hàng nghìn người.
Trong bối cảnh đó, mỗi nền kinh tế sẽ phải đáp ứng nhu cầu an ninh lương thực, an toàn về y tế bao gồm dược phẩm, dụng cụ y tế cần thiết. “Việt Nam cũng cần tự túc ở mức độ nhất định. Vai trò, trách nhiệm của nhà nước được khẳng định trong phúc lợi xã hội, không thể để bàn tay vô hình của cơ chế thị trường điều tiết tất cả các lĩnh vực” – ông Doanh nói.

Lạm phát, giá dầu và khủng hoảng lương thực
Lạm phát tăng cao ở nhiều nước như Mỹ, Đức, Nhật Bản… Để kiềm chế lạm phát thì các nước đã tăng lãi suất, nước Mỹ đã và sẽ tiếp tục tăng lãi suất nữa. Khi đó giá trị đồng USD biến động, khi đó giá cả sẽ tiếp tục biến động. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã nâng lãi suất 0,75% (ngày 27/7/2022). Đây là hành động nhằm kiềm chế lạm phát, thu hút đầu tư vào Mỹ, ngăn chặn suy thoái kinh tế Mỹ. Lãi suất cho vay ở Mỹ đã lên mức 2,25-2,5%/năm, mức cao nhất từ 20 năm. Kinh tế Mỹ đã tăng trưởng âm liền hai quý 1 và 2/2022.
Giá hàng hóa ở Mỹ tăng cao, người tiêu dùng Mỹ giảm bớt chi tiêu, ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam, nhất là với hàng dệt may và hàng điện tử… Đây là điểm mà các doanh nghiệp Việt Nam phải lưu ý bởi “Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đồng thời cũng là thị trường Việt Nam có thặng dư thương mại lớn nhất lên tới hàng chục tỷ USD mỗi năm” – TS Lê Đăng Doanh lưu ý.
Cũng theo TS Doanh, IMF năm nay đã 5 lần đưa ra các dự báo và lần nào cũng điều chỉnh giảm mức tăng trưởng xuống. “Điều đó cho thấy mức độ biến động của nền kinh tế thế giới dữ dội như thế nào. Dù Việt Nam luôn được đánh giá là một trong những nước có mức tăng trưởng cao nhất, nhưng trước khó khăn thế giới và những rào cản nội tại, chúng ta chưa có thể sớm lạc quan” – TS Doanh nhận định.
Trong bối cảnh lạm phát leo thang tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, giá nhiều mặt hàng lương thực – thực phẩm, từ lúa mì và các ngũ cốc khác cho đến thịt, trứng, sữa và dầu ăn đều tăng mạnh. Đây là hệ quả của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm việc giá phân bón và xăng dầu tăng mạnh trong vòng 1 năm qua và ảnh hưởng của chiến tranh Nga-Ukraine làm giảm mạnh nguồn cung lúa mì từ hai nước này.
Lệnh cấm xuất khẩu lương thực và sự gián đoạn nguồn cung nghiêm trọng từ một số nước như Ấn Độ (cấm xuất khẩu lúa mì), Ukraine (lúa mì, yến mạch, đường…) và Indonesia (dầu cọ) khiến đà tăng giá càng được đẩy mạnh hơn. Và gạo có thể là loại lương thực sắp bị cuốn vào cơn sốt này. Chỉ số Giá lương thực của Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) đã cho thấy giá gạo thế giới âm thầm tăng 5 tháng liên tiếp, đạt mức cao nhất 12 tháng – theo dữ liệu tháng 5 công bố vào tuần trước.
Giá tăng cao, sức mua giảm sút, nên sức mua giảm, nên việc xuất khẩu sang các nước đó sẽ hết sức khó khăn. “Chúng ta không thể cứ nghĩ xuất khẩu năm sau phải cao hơn năm trước được nữa” – TS Lê Đăng Doanh cảnh báo.

Cần một chính sách phát triển doanh nghiệp dân tộc